Chúc mừng 8/3- Ngày phụ nữ Việt Nam, thì Page không có hoa thật, nhưng mình sẽ đem muôn hoa đến cho các nữ C.I.T-er bằng bài viêt sau.
=== Tổng quan về Flavonoid
Flavonoid là một trong những nhóm hợp chất phong phú và đa dạng nhất trong thiên nhiên. Cũng giống vitamin C, các flavonoid được khám phá bởi một trong những nhà sinh hóa nổi tiếng nhất của thế kỷ 20: Albert Szent-Gyorgyi (1893-1986). Ông nhận giải Nobel năm 1937 với những khám phá quan trọng về các đặc tính của vitamin C và flavonoid. Hiện nay người ta đã biết có gần 4.000 chất flavonoid có phổ biến trong thực vật và có ở phần lớn các bộ phận của các loài thực vật bậc cao. Tuy nhiên, flavonoid không những có mặt nhiều trong những thực vật bậc cao mà còn có trong một số thực vật bậc thấp, thậm chí còn có trong một số loại tảo. Ta thường gặp Flavonoid trong hơn nửa các loại rau quả dùng hàng ngày hoặc nhóm các thực vật có nhiều tinh dầu. Phần lớn các flavonoid có màu vàng. Ngoài ra còn có những chất màu xanh, tím, đỏ hoặc không màu. Flavonoid có mặt trong tất cả các bộ phận của các loài thực vật bậc cao, đặc biệt là hoa, tạo cho hoa những sắc màu rực rỡ để quyến rũ các loại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của cây.
=== Phân loại
Flavonoid là thuật ngữ dùng để chỉ các hợp chất có bộ khung carbon 6C-3C-6C hoặc cụ thể hơn là nhóm phenylbenzopyran. Dựa vào vị trí liên kết giữa vòng thơm với benzopyrano, flavonoid được chia là 3 khung chính, flavonoid (2-phenylbenzopyran), isoflavonoid (3-benzopyran) và neoflavonoid (4-benzopyran).
=== Công dụng trong tự nhiên
Flavonoid là sắc tố tạo nên muôn màu của hoa, cỏ chủ yếu là các màu vàng cam đỏ.Anthocyanin được tìm thấy trong dịch sáp tế bào tạo hồng, cam, đỏ, tím, xanh dương. Màu có được tuỳ thuộc vào số nhóm hydroxyl và methoxyl và vị trí của các nhóm này trong phân tử. Khi các nhóm này cố định, thì màu phụ thuộc vào pH của môi trường.
Do sự khác nhau về pH trong tế bào thực vật là không lớn nên ngoài loại sắc tố và hàm lượng ra, yếu tố ảnh hưởng chính đến màu sắc các loài hoa là hiện tượng đồng sắc tố và tạo phức với vòng kiềm.
Hiện tượng đồng sắc tố: Hiện tượng đồng sắc tố là hiện tượng là màu của anthocyanidin được tăng cường bởi sự có mặt của một hay nhiều flavonoid (không màu hoặc vàng nhạt) do sự hình thành một phức bởi nối hydrogen giữa nhóm carbonyl trong baz khan (anhydrobaz) với các nhóm hydroxyl phenol trong flavonoid. Điển hình như anthicyanin tạo nên màu hạt dẻ (màu nâu sẫm) và màu tím hoa cà trong hoa anh thảo (Primula sinensis) đều là malvidin 3-glucosid . Tuy nhiên, sự khác nhau về màu là do hiện tượng đồ sắc tố của malvidin 3-glucosid với kaempferol glycosid.
Sự tạo phức vòng kiềm với kim loại: ảnh hưởng của sự tạo hợp chất vòng kìm với kim loại trên sự thay đổi màu sắc của cánh hoa có thể minh hoạ tốt nhất bằng cách so sánh màu xanh của hoa bắp xanh với màu đỏ của hoa hồng. Cả hai trường hợp đều có chứa anthocyanidin chính là cyanidin Trong hoa bắp xanh, có sự tạo thành procyanin, là một phức sắt kết tinh có màu xanh dương chứa bốn phân tử cyanin và ba phân tử flavon là apigenin-7-glucuronid-4’-glucosid . Đây là trường hợp cho thấy ảnh hưởng của cả sự tạo vòng kiềm và hiện tượng đồng sắc tố. Trong khi đó hoa hồng đỏ chỉ chứa một cyanidin có màu đỏ nguyên chất và không chứa kim loại.
Trong hầu hết các trường hợp, màu là do sự hiện diện của cyanidin 3-glucosid mặc dù lá anh thảo (Primula) và lá cà (Solanum) thì chứa delphinidin. Anthocyanin xuất hiện đặc biệt nhiều vào mùa thu tạo sắc tố đỏ cho cây, ví dụ tích thụ (Acer) và cây lê dại (Pyrus). Màu vàng và màu nâu của lá vào mùa thu là do sự hiện diện của carotenoid và tannin.
=== Hoạt tính sinh học
Flavonoid còn có tác dụng chống độc, làm giảm tổn thương gan, bảo vệ chức năng gan, giải độc gan, hỗ trợ điều trị viêm gan B, C, ít tác dụng phụ. Một số flavonoid trong tự nhiên thuộc nhóm flavon, favanon, flavanol có tác dụng lợi tiểu rõ rệt, cụ thể là trong lá diếp cá, cây râu mèo. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng tăng tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh mạch và mao mạch, dùng cho những người có biểu hiện lão suy, rối loạn trí nhớ, khả năng làm việc sút kém, mất tập trung, hay cáu gắt làm giảm huyết áp cao thất thường ở phụ nữ cao tuổi, giảm căng thẳng, lo âu, loãng xương, hỗ trợ điều trị ung thư não, ung thư tuyến tiền liệt, vòi trứng và lá lách lão hóa da, hỗ trợ làm đẹp, săn chắc,kháng oxi hoá, bảo vệ da, làm cho ngực nở, săn chắc ở nữ giới.
=== Tài liệu tham khảo chọn lọc:
[1] Grotewold, Erich, The Science of Flavonoids, 1st ed, Springer-Verlag New York, 2006.
[2] Raymond Cooper, George Nicola, Natural Products Chemistry: Sources, Separations and Structures, 1st ed, CRC Press, 2014.
[3] Catherine A. Rice-Evans, Lester Packer, Flavonoids in Health and Disease, 2nd ed, CRC Press, 2003.
[4] Latifa Chebil, Catherine Humeau, Julie Anthoni, Franc¸ois Dehez, Jean-Marc Engasser, Mohamed Ghoul, Solubility of Flavonoids in Organic Solvents, J. Chem., 52, 1552-1556, 2007.
[5] Nguyễn Thị Nga, Hợp chất Flavonoid, Luận văn thạc sĩ, Khoa Công Nghệ Hoá Học – ĐH Công Nghiệp Hà Nội, 2015.
[6] Nguyễn Diệu Liên Hoa, Phạm Đình Hùng, Hoá Học Các Hợp Chất Tự Nhiên, NXB ĐHQG-HCM, 272-288, 2015.
[7] Phan Quốc Kinh, Giáo Trình Các Hợp Chất Thiên Nhiên Có Hoạt Tính Sinh Học, NXB Giáo Dục Việt Nam, 118-129, 2011.
[8] http://doctorsaman.vn/tin-tuc/vai-tro-va-hoat-tinh-sinh-hoc-cua-flavonoid.html, 2018.
Tác giả: Chemistry CIT
Nguồn gốc các nguyên tố?
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học vào những năm của thế kỷ 19 và 20 nhiều thành tựu khoa học lớn được công nhận. Song, khoa học còn cần giải thích nhiều vấn đề mang tính hàn lâm và bản chất sâu xa về các nguyên tố như: tại thời điểm nào? các nguyên tố được hình thành như thế nào? tại sao có một số nguyên tố rất phổ biến một số khác lại tương đối hiếm ở trái đất?…. Cũng trong những năm của thế kỷ 20 để trả lời các câu hỏi đó dựa trên những lí thuyết, những lí thuyết nửa thực nghiệm, những bằng chứng khoa học lí thuyết cũng như thực nghiệm đã đưa ra nhiều các giải thích khác nhau, nhưng tựu chung giả thuyết “Big Bang” (Vụ nổ lớn) dựa trên hiệu ứng Doppler và vũ trụ giãn nở là được chất nhập nhiều hơn cả.
Thuyết Big Bang cho rằng vũ trụ ban đầu là một khối đậm đặc và nóng(1) được gọi là “điểm kỳ dị”, vào một ngày đẹp trời điểm kỳ dị phát nổ, trong khoảng 3 phút + 1 phần trăm của giây(2) sau vụ nổ, vào lúc này vũ trụ đã giảm đi khoảng 1 tỷ độ, các proton bắt đầu liên kết với nhau tạo ra các nhạt nhân đầu tiên là hydro và heli. Vài nghìn năm sau, khi nhiệt độ vũ trụ hạ xuống còn vài nghìn độ, các electron chuyển động châm đến mức hạt nhân nhẹ có thể bắt giữ chúng để tạo thành các nguyên tử.
Dưới tác động trong lòng các ngôi sao ở nhiệt độ tầm khoảng 10^(6)-10^(8) độ K các phản ứng tổng hợp hạt hân bắt đầu xảy ra. Đầu tiên là sự “đốt cháy hydro” hay “quá trình hydro” để tổng hợp heli. Tiếp đó là sự “đốt cháy heli” hay “quá trình heli” để tổng hợp nguyên tố Carbon, sau đó Carbon bắt đầu bắt các hạt alpha (quá trình alpha) đê tổng hợp các hạt nhân O, Ne, … tới Mg. Tiếp đến là quá trình “đốt cháy carbon” hay “quá trình carbon” diễn ra với “quá trình bắt alpha” để hình thành các hạt nhân nặg như Fe ,… tới Ni. Còn những nguyên tố nặng về sau được cho là có sự diễn ra của “quá trình bắt nơtron” trong môi trời có mật độ nơtron cao và tiếp đó là sự giải phóng electron.
Các quá trình đề nghị trên không những phù hợp với các lí thuyết vật lý hạt nhân mà còn cho phép giải thích các dữ kiện quan sát được về sự phân bố của các nguyên tố trong vũ trụ.
====Chú thích
(1) Ở đây Stephen Hawking gọi vũ trụ như là một hạt dẻ: “Nutshell”
(2) Số liệu này được tham khảo trong quyển “Stephen Hawking, The universe in a nutshel (bản dịch Việt Ngữ), tái bản lần 12, NXB Trẻ, 2016”. Tuy Nhiên, trong quyển “Vũ Đăng Độ, Triệu Thị Nguyệt, Hoá học vô cơ quuyển 1 các nguyên tố s và p, tái bản lần 3, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2015.” lại có đoạn “sau 2h thì hầu như toàn bộ vật chất đã ở dưới dạng hyđro”.
====Tài liệu tham khảo chọn lọc:
[1] Nguyễn Duy Ái, Định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2011.
[2] Vũ Đăng Độ, Triệu Thị Nguyệt, Hoá học vô cơ quuyển 1 các nguyên tố s và p, tái bản lần 3, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2015.
[3] Stephen Hawking, The universe in a nutshell (bản dịch Việt Ngữ). tái bản lần 12, NXB Trẻ, 2016.
Dở cả lí và hoá
Tại sao ở điều kiện thường các bình bảo quản các acid không màu như HCl, HBr, HI lại có đậm dần?
Đó là do độ bền liên kết giảm dần ở các phân tử HCl > HBr> HI.
Ta xét một cách tổng quát theo thuyết VB như sau:
Độ bền liên kết phụ thuộc vào 3 yếu tố: Mật độ electron tại vùng xen phủ, độ lớn vùng xen phủ, độ đồng năng của các orbital xen phủ, trong đó mật độ điện tử tại vùng xen phủ có vai trò quan trọng nhất.
1. Độ đồng năng là sự giống nhau về mức năng lượng, ta có thể thấy orbital 1s của H có mức năng lượng gần nhất với orbital 3p của Cl và xa hơn với orbital 4p của Brom và xa nhất là orbital 5p của I.
2. Độ lớn vùng xen phủ: với sự tăng dần kích thước bán kính của Clo, Brom, Iode thì độ lớn vùng xen phủ cùng lần lượt tăng dần.
3. Mật độ electron tại vùng xen phủ: hãy tưởng tượng đơn giản là một khoảng đất rộng với 3 người thì mật độ dân cư sẽ thấp, nhưng với khoảng đất nhỏ cũng với 3 người mật độ dân cư lại cao, vậy có thể thấy mật độ điện tử tại vùng xen phủ tăng dần theo chiều I<Br<Cl.
Với các yếu tố trên ta có thể kết luận độ bên liến tăng dần theo chiều HI<HBr<HCl. Từ đó dẫn đến việc ở điều kiện thường các acid halogenic càng về sau càng dễ phân huỷ hơn nên màu của các lọ chứa dung dịch acid có màu càng đậm hơn.
Nguồn hình ảnh: Ralph H. Petrucci, F Geofrey Herring, Jeery D. Madura, Carey Bissonnette, General chemistry 10th, Pearson Canada Publish house, 407, 2011.

[Câu đố] Tẩy trắng đường
Đường là một loại gia vị rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày của chúng và đặc biệt là trong gia đình luôn có một hủ đường hay một bịch đường tinh luyện … với công thức hoá học là C12H22O11 ( saccarozo )là công thức hoá học của đường mía. Có một điều thú vị rằng trong mắt ta, màu của đuờng là màu trắng nhưng thật chất là không màu, cái màu chúng ta nhìn là do sự phản xạ ánh sáng. Nhưng mà đường mía khi mới chiết ra là màu vàng nâu ( ảnh 1 ) [ Đuờng nâu ] do có tạp chất và sau khi qua tẩy trắng và loại bỏ tạp chất thì nó biến thành màu trắng ( hình 2 ) [ Đuờng trắng ]. Nếu loại bỏ tạp chất đến 99,9% thì ta thu được đường tinh luyện. Vậy khi tẩy rắng người ta đã dùng hoá chất gì :Đ
Gợi ý:
– Trạng thái khí
– Là 1 hợp chất
– Có nhiều tác dụng cho giấy, vải
– Sản xuất ra H+
Mn đoán xem là khí gì nào :>>>>

Bả chó là gì?
Bả chó là một loại chất độc được dùng vào mục đích gây chết cho các loài vật như chó, mèo, chuột nhằm phục vụ nhu cầu của con người. Hiện nay, bả chó có nhiều loại nhưng loại chung quy bả chó chứa các thành phần như cyanua, tali, asen, colchicin. Sau khi bả chó phát tác sẽ gây ra các triệu chứng như đau bụng, mờ mắt, sùi bọt mép và tắt thở.
Nguồn: tổng hợp nhiều nguồn
Heo Hường kính phím
Nguồn hình ảnh: Viện Bô Lão – The Elders

Paraben acid – chất bảo quản mỹ phẩm.
Hình dưới là công thức hoá học của paraben (pá ra bẻn) acid, một số dẫn xuất của Pá ra bẻn acid được dùng vào việc bảo quản các loại mỹ phẩm, tuy nhiên nghiên cứu chỉ ra bằng những sản phẩm chứa Pá ra bẻn gây mất cân bằng nội tiết tố. Hiện nay, các nước châu Âu và khối Asean đề nghị loại bỏ 5 chất dẫn xuất từ paraben trong lúc chờ đợi nghiên cứu và để đảm bảo an toàn sức khỏe người tiêu dùng.

Khi bạn cố lại gần hoá đại nhân
Hệ phương trình và định thức thế kỷ
Nếu bạn chưa biết thì Hình 1 được gọi là HỆ PHƯƠNG TRÌNH THẾ KỶ được rút ra và biến đổi từ việc áp dụng phép tính biến thiên và phương trình sóng Schroedinger, còn hình 2 chính là ĐỊNH THỨC THẾ KỶ, khi giải được định thức thế kỷ chúng ta sẽ tìm được biểu thức đối với năng lượng E, đặt giá trị của E thu được vào hệ phương trình thế kỷ ta sẽ các định được các hệ số c1, c2, …, cn. Khi các hệ số c1, c2, …, cn được rút ra chính là đi xác định giá trị gần đúng của hàm (psi), với giá trị năng lượng E càng nhỏ thì hàm sóng này càng gần với hàm sóng của hệ (vì đây chỉ là phép tính gần đúng).
Heo Hường kính phím
Tài liệu tham khảo: Đào Đình Thức, Cấu tạo nguyên tử và liên kết hoá học tập 2, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2016.



